












Thiệp Xuân Kỹ Sữu 2009
I am an Actor . Althought I have to leave stage but I 'm still doing something that concern to stage , that 's what make me became a play writer ( Dù tôi đã rời bỏ Sân khấu , nhưng tôi vẫn phải làm gì đó liên quan đến Sân khấu , đó là điều làm tôi trở thành một người viết kịch bãn )


















Wednesday, 19. September 2007, 14:26:57
- Con trâu trong văn hóa Việt http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A2u#Con_tr.C3.A2u_trong_v.C4.83n_h.C3.B3a_Vi.E1.BB.87tthuộc họ móng guốc (trâu bò). Chúng sống hoang dã ở Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Bhutan, Thái Lan và Việt Nam, ngoài ra trâu cũng sống hoang dã ở phía bắc Australia. Trâu rừng vẫn còn tồn tại trong thiên nhiên ở Đông Nam Á, nhưng số lượng trâu hoang dã không còn nhiều, và người ta lo ngại rằng trâu rừng hoang dã thuần chủng không còn tồn tại nữa. Tại Việt Nam vẫn có trâu rừng ,nhưng số lượng còn rất ít, chúng phân bố dọc dãy Trường Sơn, trong đó có khu vực miền tây Thanh Hóa giáp với Lào. Nhiều đàn trâu đã được thuần dưỡng và lai. Trâu có 2 loại: loại màu da xanh đen (trâu đen) và loại màu da sáng hồng (trâu trắng).
- Thêm căn cứ về loài thú khổng lồ có ở Việt Nam http://www.laodong.com.vn/Home/khoahoc/2007/1/20926.laodong - Lễ tạ ơn con trâu của người Thái ở Tây Bắc http://hanoi.vnn.vn/vanhoa/lehoi.asp?id=LH3030537650 - Lễ Tạ ơn con trâu của người Thái http://www.vietnamgateway.org/vanhoaxa/chuyenmuckhac.php?action=thongtin&chuyenmuc=0303&id=070606075516 - Tục cúng vía trâu của người Thái Mường Lò http://www.baophutho.org.vn/baophutho/vn/website/du-lich-le-hoi-am-thuc/2007/10/1144D309F92/ - Chém trâu tế thần của người Chăm Lạc Tánh http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn/phongtuctapquan/2006/11/637402/ - NÉT ĐẸP LỄ ĐÂM TRÂU CỦA NGƯỜI M’NÔNG Ở ĐẮK NÔNG http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT2450733296
* Tục ngữ ca dao Việt Nam có câu:
Con trâu là đầu cơ nghiệp
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy ắt là khó thay
Con trâu còn gắn liền với tuổi thơ của trẻ em nông thôn: chăn trâu thì gần gũi, vui đùa với trâu, tắm trâu, phơi áo trên lưng trâu...
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta,
Cái cày nối nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.
- Lễ hội đâm trâu của người Cor (Quảng Ngãi) http://www.vietnamgateway.org/vanhoaxa/index.php?action=thongtin&chuyenmuc=0303&id=070208175232Cũng như các dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên, đồng bào dân tộc M’nông ở Đắk Nông đến nay vẫn duy trì được lễ đâm trâu ( hay còn gọi là lễ ăn trâu ), một lễ hội truyền thống của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên. Lễ hội thường diễn ra vào những ngày nông nhàn, mọi người được nghỉ ngơi, vui chơi để chuẩn bị cho mùa rẫy mới, thường rơi vào tháng 3 hoặc đầu tháng 4 âm lịch.
- Hội chọi trâu Đồ Sơn: Đậm nét văn hóa vùng biển http://www.dulichvietnam.com.vn/webplus/viewer.asp?pgid=21&aid=1457Đâm trâu là một trong những tập tục của người Cor ở huyện vùng cao Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi. Đó là kết quả sau lời nguyện ước của một người trọng bệnh được chữa khỏi, cũng có khi đó là cuộc tế lễ của một người khá giả muốn đãi dân làng sau một năm làm ăn phát đạt. Nhưng lễ đâm trâu vào ngày 13/01/2007 tại thôn 2 xã Trà Thủy chỉ một lý do: Khánh thành ngôi nhà “tàu lửa” của làng.
- Chọi trâu ở Sài Gòn http://www.nld.com.vn/tintuc/the-thao/118021.asp - - Nét văn hoá trong lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên http://www.hoinongdan.org.vn/channel.aspx?Code=NEWS&NewsID=131&c=32 - Lễ hội “Nào Cống” http://nguoinongdan.vietnamgateway.org/index.php?action=thongtin&chuyenmuc=0303&id=070309124905 - Tục Đâm Trâu http://vnvista.com/greenmusicco109/tuc-dam-trau-34258 - Xây dựng thương hiệu trâu Tuyên Quang http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=38&sub=128&article=79300Chưa rõ lai lịch, nhưng từ lâu lắm rồi người Đồ Sơn đã lưu truyền câu ca dao cổ:
"Dù ai buôn đâu, bán đâu
Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về
Dù ai bận rộn trăm bề
Mồng chín tháng tám nhớ về chọi trâu"
- Chùm ảnh Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn 2003 http://www.vnn.vn/vanhoa/2003/9/28557/ - "Phong cách nông dân" và "con trâu 10 tỷ" http://vietnamnet.vn/psks/2007/07/723732/ - Ông nông dân "đổi" trâu lấy 10 tỷ đồng http://vietnamnet.vn/psks/2007/07/722592/"Phật là gì?"
Thượng Sỹ đáp:
"Con trâu đất. (công án của Đ.L.)"
- Những con trâu anh hùng http://luna4ever.wordpress.com/2007/09/12/nh%E1%BB%AFng-con-trau-anh-hung/Cơ nghiệp lớn nhất của người nông dân là con trâu. Thế mà ông đem bán cả "cơ nghiệp" ngày ngày lầm lũi đi trước mình trên những thửa ruộng cộc cằn, chỉ để mua một cây cảnh. Nhưng, niềm đam mê và khát khao thoát nghèo lại mang đến cho ông một cơ nghiệp khác, trị giá 10 tỷ đồng.
Từ thành phố Vinh, vượt hơn 100km chúng tôi về xã Đức Sơn, huyện Anh Sơn, nơi có một cái nghề rất lạ - “nâm” trâu trong rùng sâu. Quanh năm, suốt tháng những người đàn ông khỏe mạnh thay nhau vào rừng “nâm” trâu. Từ những đàn trâu là nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình và cũng từ đàn trâu mà nhiều con em trong xã đã trở thành những cử nhân, bác sĩ…
- TRANH CHĂN TRÂU http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-tranh-chantrau/ix.htm - Thả trâu cho… trời (Website Viện chăn nuôi) http://www.vcn.vnn.vn/PrintPreview.aspx?ID=6497 - Phương pháp thu lợi cao từ con trâu già bị loại thải http://www.skhcn.vinhlong.gov.vn/ThongTin/tabid/59/categoryId/55/itemId/72/Default.aspx“Nâm” trâu theo bà con nơi đây giải thích là đưa trâu vào trong rừng sâu để chăn thả nhưng không phải là thả rông mà có người quản lý.
Bài này rất giá trị cho nông dân - SỐP CỘP HƯỚNG ĐI MỚI http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT3180728107Con trâu luôn gắn liền với hoạt động sản xuất của người nông dân, tuy nhiên khi bị khai thác quá sức mà không được chăm sóc tốt nó sẽ bị gầy gò ốm yếu, kiệt quệ không thể phục vụ sản xuất. Làm thế nào để có thể mang lại lợi kích kinh tế cao từ những con trâu già, trâu tơ không đủ sức sản xuất. Phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng sau đây sẽ giúp bà con "giải đáp" bài toán kinh tế này.
- Con nghé nhân bản đầu tiên ra đời http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2005/03/3B9DC7F8/ - Làng quê vắng bóng ...trâu http://www.baobacninh.com.vn/module/news/ViewContent.asp?langid=2&ID=246con trâu chính là đầu cơ nghiệp của Sốp Cộp và nó sẽ là “lá bùa thiêng” để huyện đuổi đi “con ma” tăm tối đói nghèo. Hiện tại, toàn huyện đã có khoảng 15.000 con trâu và con số này sẽ được nhân lên rất nhanh trong vài năm tới.
- Chính phủ tặng 253 con trâu kéo cho đồng bào dân tộc huyện A Lưới http://www1.thanhnien.com.vn/Xahoi/2005/4/4/65558.tno - Dạy... Trâu http://www.cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=6057Từ xưa trâu được xem là con vật quý trong mỗi gia đình nông dân. Ông cha ta vẫn có câu "Con trâu là đầu cơ nghiệp". Bà con nuôi trâu để phục vụ nông nghiệp như cày, kéo, chuyên chở... Còn bây giờ trâu đang lên giá. Nhưng cũng vì trâu lên giá mà làng quê... vắng dần bóng trâu.
- Thoát nghèo nhờ… trâu http://www.vnpost.dgpt.gov.vn/bao_2007/so05/vhxh/t12b1.htm - Nuôi trâu lấy thịt (Diễn đàn Nông nghiệp - Nông thôn) http://www.nghenong.com/showthread.php?t=188Cả làng Ngọc, ai cũng biết đến ông Kuơ Muông, không phải ông nổi tiếng vì giầu có, hay vì tuổi cao nhất làng mà vì ông có biệt tài về nuôi, dạy trâu. Lúc đầu, nghe đến chuyện này, nhiều người phá lên cười.
- Trâu Vàng Hồ Tây http://www.vn.net/article.php/20051221201856760 - Về Bát tràng đi xe trâu http://www.mangdulich.com/home/modules.php?name=News&file=article&sid=3751Câu chuyện của tôi bắt đầu từ câu hỏi của một chuyên gia kinh tế nước ngoài khi đi thăm các tỉnh miền Trung gần đây: “Tại sao ở miền Trung Việt Nam nông dân vẫn dùng trâu để cày ruộng?”. Khi nhận được câu hỏi như thế, tôi nói ngay: “Ông thấy đấy, chân ruộng ở miền Trung nhỏ và hẹp, dùng trâu để canh tác rất thích hợp”.
- Tục Lễ đầu Xuân http://www.ninhthuanpt.com.vn/chuc_xuan/Tucledauxuan.htm Giải trí chútBa khách du lịch người vùng Kô Bê (Nhật Bản) hết giơ hai tay lên trời rồi lại ấp vào ngực để diễn tả cảm xúc khó nói được thành lời sau một tour thăm thú làng gốm cổ Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) bằng xe trâu của Công ty TNHH gốm sứ Minh Hải. Bà Mi Chi Ko thốt lên: “Tôi đã được xem múa rối nước và bây giờ là đi xe do trâu kéo, rất đặc biệt, rất Việt Nam, chỉ ở Việt Nam mới có”. Còn cô May U Mi thì vừa cười, vừa đưa tay xoa nhẹ đầy âu yếm vào lưng con trâu như để tạm biệt nó trước lúc rời khỏi làng gốm.

Thốt Nốt
Ðó là biên bản lời nguyên thủy cùa bài Dạ Cổ Hoài Lang (Ðêm nghe tiếng trống nhớ chồng) của ông Cao Văn Lầu (1892-1976) tức Sáu Lầu, bài hát tiền thân của bản Vọng Cổ ngày nay.
Tuy cải lương tuy đã có trước khi bài Vọng Cổ ra đời nhưng nhờ bài hát nầy mà nó đã
biến thể, thu hút giới thưởng ngoạn nhanh chóng và đông đảo hơn. Một tuồng cải lương, về kỷ thuật, là một tổng hợp của nhiều bài bản cổ nhạc dựa theo nội dung cốt truyện. Tuy nhiên, dù vở tuồng thuộc bất cứ thể loại nào: bi thảm, hài hước, xã hội, dã sử hay hương xa, nó đều phải có ít nhất một bài Vọng Cổ ở mỗi màn. Bắt buộc không thể thiếu. Nếu do đào kép nổi tiếng thủ diễn thì họ phải hát Vọng Cổ vài lần (thường là lúc chia tay và khi tái ngộ). Thật cũng không ngoa nếu nói cải lương nhờ Vọng Cổ mà đi sâu vào dân chúng, từ giai cấp trí thức đến tầng lớp bình dân, và Vọng Cổ cũng nhờ cải lương mà có một địa vị bất tử trong lòng người dân từ Bắc vô Nam.
Cổ nhạc Nam phần có rất nhiều bài bản: Xàng Xê, Nam Ai, Văn Thiên Tường, Nam Xuân, Sương Chiều, Tú Anh, v.v. nhưng nổi tiếng nhất vẫn là bài Vọng Cổ. Về sau chữ Vọng Cổ gần như đồng hóa và thay thế cho chữ Cổ nhạc Nam phần. “Nghe Vọng Cổ,” “ca Vọng Cổ,” “Làm vài câu Vọng Cổ nghe chơi!” trở thành ngôn ngữ thông dụng cho cách thưởng thức một bộ môn nghệ thuật đại chúng của dân miền Nam. Tuy nói là “nghe chơi” nhưng phải nhìn khán giả miền Nam khi họ nghe ca Vọng Cổ, dù ở các đám tiệc, buổi đờn tài tử hay trong rạp hát, mới thấy sự trân trọng của họ đối với bài hát và người trình diễn. Không ai bảo ai, tất cả đều im lặng khi câu rao bắt đầu. Họ chờ đợi nhưng cổ võ người nghệ sĩ trong im lặng, háo hức. Người hát cũng đáp lễ bằng để hết tâm hồn vào câu ca vì một câu ca vô hồn sẽ hiện rõ không thể dấu diếm, và đó là điều khinh thường người thưởng ngoạn. Câu xề vừa xuống là tiếng vỗ tay vang rền, từ em bé được cha mẹ dẫn đi xem hát lần đầu đến cụ bà hom hem ngồi bên đứa cháu, từ ông bà sang trọng ngồi ở hàng ghế thượng hạng gần sân khấu cho đến người đàn bà nhà quê ngồi cuối rạp ở hạng cá kèo. Tất cả đều vỗ tay. Tất cả đều bình đẳng. Không kẻ lớn người nhỏ, không kẻ giàu người nghèo. Chỉ có người thưởng thức một bài hát hay. Sau hơn 80 năm bài Vọng Cổ vẫn là vị hoàng đế không ngai của âm nhạc miền Nam. Trong một buổi trình diễn cổ nhạc Nam phần, dù là nguyên trọn hay trích đoạn vỡ hát cải lương hoặc đờn ca tài tử, bài Vọng Cổ luôn luôn có mặt và luôn luôn là bài hát chánh. Bài Vọng Cổ là một bài hát đặt biệt của miền Nam, không thể lầm lẫn. Nó là biểu tượng đặc biệt của dân miền Nam. Không to lớn dữ dội như sông Hồng, không thơ mộng, văn vẽ như sông Hương nhưng như giòng Cửu Long với nhánh sông Tiền, sông Hậu chảy thấm vào đất đai, bồi bổ đồng ruộng, chảy thấm vào lòng người lúc nào không biết. Bản Vọng Cổ thấm vào tâm hồn mộc mạc, chất phác của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và của cả miền Nam nói chung. Nhập vào từ lúc còn ngậm bầu vú mẹ, nhập vào từ lúc chập chửng bước đi cho mãi đến khi đặt chân vào cuộc đời đầy tranh đua, phiền toái.
Có phải ông Sáu Lầu là người đã đặt ra bài Dạ cổ hoài lang? Theo truyền thuyết, ông Sáu Lầu cưới vợ đã lâu, gia đình đầm ấm nhưng không có được một mụn con. Cha mẹ ông buộc ông phải cưới vợ khác để ông bà có cháu nối dõi tông đường. Ông Sáu buồn rầu, không biết xử sao cho vẹn cả đôi bên hiếu và tình. Sống xa người vợ thương yêu nhưng nào đâu quên bỏ được. Tuy xa mặt nhưng lòng không cách, tình yêu càng làm nỗi nhớ thương tăng thêm dào dạt. Lòng tâm sự của người chồng gởi cả vào bản nhạc mới được đặt ra, đó chính là bài Dạ cổ hoài lang bất hủ. Tuy bị cấm cản, ông vẫn lén lút lui tới với vợ. Sau đó bà có mang, vợ chồng lại xum họp.
Sở dĩ tôi chỉ gọi là bản nhạc mà không gọi là bài ca hay bài hát vì hiện nay có một số nghi vấn về lời của bài Dạ cổ hoài lang. Có những người cho rằng lời bài hát do ông Trần Xuân Thơ đặt ra, hay do một nhóm tài tử Sài Gòn đặt ra. Có người lại xác định là ông Sáu Lầu đã sáng tác cả nhạc lẫn lời. Dù sao đi nữa mọi người đều đồng ý là ông Sáu Lầu là cha đẻ của bài nhạc vô địch đó. Bài Dạ cổ hoài lang sau chuyển thành Vọng Cổ hoài lang (Trông tình xưa nhớ đến chồng) và cuối cùng là Vọng Cổ như ta biết ngày nay.
Theo cá nhân tôi, nếu truyền thuyết về hoàn cảnh sáng tác của ông Sáu Lầu là đúng thì có lẽ ông chỉ đặt ra bài nhạc, còn lời ca là của một nguồn gốc khác chưa được xác định chắc chắn. Tại sao? Đọc lời ca của bài Dạ cổ hoài lang ta thấy rõ ràng đó là lời than thở nhớ thương của một người vợ có chồng đi chinh chiến nơi phương xa. Nàng mong chồng bình an trong chiến trận, nhớ lời ước hẹn, tình nghĩa phu thê mà sớm quay về gia trung. Đây không phải là lời thương yêu ai oán của một người chồng, vì hoàn cảnh, đang phải sống xa lìa người vợ thủy chung. Dù có ngụy trang thế nào đi nữa, ông Sáu Lầu cũng không thể đặt ra lời cho một người đàn bà nhớ chồng để gởi gắm tâm sự nhớ vợ của ông. Rất phản tự nhiên. Văn chương của lời ca cũng tương hợp với các loại truyện thơ như Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương của đất Nam Bộ thời ấy hoặc các truyện Tàu như Tam quốc chí, Nhạc Phi, Thuyết Đường do ông Nguyễn Chánh Sắc và những nhà văn xưa của miền Nam dịch thuật. Ngoài ra, tất cả các bản nhạc xưa đều được sáng tác nguyên thủy cho nhạc khí, không lời hát và có lẽ nhờ đó mà chúng đuợc phổ biến rộng rải và lưu truyền cho đến ngày nay. Chúng không bị bó buộc tình cảm để chỉ được trình diễn hay thưởng thức trong một hoàn cảnh nhất định như các bài hát có lời.
Bài Vọng Cổ có một nét đặc biệt mà gần như không một bài hát nào khác được thừa hưởng. Đó là tính đa dạng, biến thái của bài hát theo lời ca . Cũng cùng điệu nhạc, điệu đàn nhưng bài Vọng Cổ thay đổi hẳn bản chất tùy theo lời đặt ra. Buồn thương sầu thảm như Lan và Điệp, Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài. Não nề ai oán như Sầu vương ý nhạc, Hạng Võ biệt Ngu Cơ. Khuyên dạy êm đềm như Tu là cội phúc, Nỗi mừng ngày cưới. Kể truyện tích xưa như Đội gạo đường xa, Lưu Bình Dương Lễ. Vui đùa, dí dỏm như Tư Ếch đi Sài Gòn, Tựa tuồng sân khấu. Không thể dùng Lý con sáo để nói những lời hý lộng mà chỉ có thể than thở như cô Lan trong Tình Lan và Điệp của soạn giả Viễn Châu (đừng lầm với bài Lan và Điệp cũng của ông Viễn Châu):
Bản Vọng Cổ ca đủ 6 câu phải mất khoảng 6 phút, gần gấp đôi một bản tân nhạc, có thể kể đầy đủ một câu truyện, một sự tích. Vì vậy Vọng Cổ là một phương tiện rất tốt để truyền bá kiến thức văn hóa cho đại chúng nhất là với tầng lớp dân quê ít học. Đất rộng, người thưa. Vất vả, cô đơn là những nỗi khó khăn mà lớp người tiền phong xuôi Nam khai phá đất đai, mở mang xứ sở phải chịu đựng:
Nhờ Vọng Cổ mà người bình dân miền Nam biết được các tích truyện đầy luân lý như Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Thạch Sanh Lý Thông, Tử Lộ v.v. hay những điển tích truyện Tàu như Triệu Tử Long triệt giang, Đơn Hùng Tín, Đắc Kỷ Trụ Vương, Lữ Bố hí Điêu Thuyền, Chung Vô Diệm. Không có lối giáo dục nào hay hơn. Trước là truyện thơ, sau là Vọng Cổ đã tạo cho người miền Nam một nếp sống và nhân sinh quan khác hơn dân các miền khác. Tinh thần phóng khoáng của những bậc tiền bối đi trước đã được các tích Cậu Hai Miêng, Đào Viên kết nghĩa, Đơn Hùng Tín, v.v. vung bồi, như phù sa làm phì nhiêu thêm đất vườn vùng đồng bằng sông Cửu, và truyền dạy đến lớp hậu sinh ngày nay. Nó tạo ra những phong cách “tứ hải giai huynh đệ”, “anh hùng tử, khí hùng bất tử” mà đến nay người miền Nam vẫn còn tự hào.
Rảo bước vào các làng quê miền Nam, người khách lạ luôn luôn nghe tiếng ca Vọng Cổ văng vẳng vọng ra từ một ngôi nhà nào đó trong xóm. Có thể là giọng ca của Minh Cảnh, Lệ Thủy, hay Hữu Phước, Ngọc Giàu. Có thể là bài Vọng Cổ xưa như Người mẹ mùa ly loạn, Gánh nước đêm trăng, có thể là một tân cổ giao duyên như Chàng là ai, có thể là giọng ca hài hước của Văn Hường trong Vợ tôi tôi sợ. Nhưng âm vang của bài Vọng Cổ luôn luôn ôm ấp, quấn quít tâm hồn người dân hiền lành, mộc mạc từ mấy mươi năm trước cho đến bây giờ. Và sẽ còn mãi về sau, thương hoài câu Vọng Cổ.
Thốt Nốt
Copy from : http://honque.net/