Thứ Tư, 7 tháng 1, 2009

Mừng Năm Trâu Việt Nam




















Con trâu Việt Nam (Vietnamese buffalo info)

Nói về con Trâu, chắc ít người quan tâm. Tuy nhiên, Việt Nam chúng ta là một nước nông nghiệp, vẫn đang còn rất phổ biến tình trạng "con trâu đi trước, cái cày đi sau", "con trâu là đầu cơ nghiệp"... Chuyên đề này tìm hiểu xem, con trâu ở Việt Nam đã được quan tâm như thế nào?. Việt Nam có thể làm gì trong thời đại hội nhập này với lợi thế con trâu? KỲ 1: TỔNG QUAN VỀ CON TRÂU Những bài viết, website về con trâu - Trâu ? http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A2u

thuộc họ móng guốc (trâu bò). Chúng sống hoang dã ở Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Bhutan, Thái Lan và Việt Nam, ngoài ra trâu cũng sống hoang dã ở phía bắc Australia. Trâu rừng vẫn còn tồn tại trong thiên nhiên ở Đông Nam Á, nhưng số lượng trâu hoang dã không còn nhiều, và người ta lo ngại rằng trâu rừng hoang dã thuần chủng không còn tồn tại nữa. Tại Việt Nam vẫn có trâu rừng ,nhưng số lượng còn rất ít, chúng phân bố dọc dãy Trường Sơn, trong đó có khu vực miền tây Thanh Hóa giáp với Lào. Nhiều đàn trâu đã được thuần dưỡng và lai. Trâu có 2 loại: loại màu da xanh đen (trâu đen) và loại màu da sáng hồng (trâu trắng).

- Con trâu trong văn hóa Việt http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%A2u#Con_tr.C3.A2u_trong_v.C4.83n_h.C3.B3a_Vi.E1.BB.87t

* Tục ngữ ca dao Việt Nam có câu:
Con trâu là đầu cơ nghiệp
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy ắt là khó thay
Con trâu còn gắn liền với tuổi thơ của trẻ em nông thôn: chăn trâu thì gần gũi, vui đùa với trâu, tắm trâu, phơi áo trên lưng trâu...
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta,
Cái cày nối nghiệp nông gia,
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

- Thêm căn cứ về loài thú khổng lồ có ở Việt Nam http://www.laodong.com.vn/Home/khoahoc/2007/1/20926.laodong - Lễ tạ ơn con trâu của người Thái ở Tây Bắc http://hanoi.vnn.vn/vanhoa/lehoi.asp?id=LH3030537650 - Lễ Tạ ơn con trâu của người Thái http://www.vietnamgateway.org/vanhoaxa/chuyenmuckhac.php?action=thongtin&chuyenmuc=0303&id=070606075516 - Tục cúng vía trâu của người Thái Mường Lò http://www.baophutho.org.vn/baophutho/vn/website/du-lich-le-hoi-am-thuc/2007/10/1144D309F92/ - Chém trâu tế thần của người Chăm Lạc Tánh http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn/phongtuctapquan/2006/11/637402/ - NÉT ĐẸP LỄ ĐÂM TRÂU CỦA NGƯỜI M’NÔNG Ở ĐẮK NÔNG http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT2450733296

Cũng như các dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên, đồng bào dân tộc M’nông ở Đắk Nông đến nay vẫn duy trì được lễ đâm trâu ( hay còn gọi là lễ ăn trâu ), một lễ hội truyền thống của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên. Lễ hội thường diễn ra vào những ngày nông nhàn, mọi người được nghỉ ngơi, vui chơi để chuẩn bị cho mùa rẫy mới, thường rơi vào tháng 3 hoặc đầu tháng 4 âm lịch.

- Lễ hội đâm trâu của người Cor (Quảng Ngãi) http://www.vietnamgateway.org/vanhoaxa/index.php?action=thongtin&chuyenmuc=0303&id=070208175232

Đâm trâu là một trong những tập tục của người Cor ở huyện vùng cao Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi. Đó là kết quả sau lời nguyện ước của một người trọng bệnh được chữa khỏi, cũng có khi đó là cuộc tế lễ của một người khá giả muốn đãi dân làng sau một năm làm ăn phát đạt. Nhưng lễ đâm trâu vào ngày 13/01/2007 tại thôn 2 xã Trà Thủy chỉ một lý do: Khánh thành ngôi nhà “tàu lửa” của làng.

- Hội chọi trâu Đồ Sơn: Đậm nét văn hóa vùng biển http://www.dulichvietnam.com.vn/webplus/viewer.asp?pgid=21&aid=1457

Chưa rõ lai lịch, nhưng từ lâu lắm rồi người Đồ Sơn đã lưu truyền câu ca dao cổ:
"Dù ai buôn đâu, bán đâu
Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về
Dù ai bận rộn trăm bề
Mồng chín tháng tám nhớ về chọi trâu"

- Chọi trâu ở Sài Gòn http://www.nld.com.vn/tintuc/the-thao/118021.asp - - Nét văn hoá trong lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên http://www.hoinongdan.org.vn/channel.aspx?Code=NEWS&NewsID=131&c=32 - Lễ hội “Nào Cống” http://nguoinongdan.vietnamgateway.org/index.php?action=thongtin&chuyenmuc=0303&id=070309124905 - Tục Đâm Trâu http://vnvista.com/greenmusicco109/tuc-dam-trau-34258 - Xây dựng thương hiệu trâu Tuyên Quang http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=38&sub=128&article=79300 - Con Trâu Đất Một Biểu Tượng Độc Đáo của Tuệ Trung http://www.quangduc.com/Thien/29contrau.html

"Phật là gì?"
Thượng Sỹ đáp:
"Con trâu đất. (công án của Đ.L.)"

- Chùm ảnh Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn 2003 http://www.vnn.vn/vanhoa/2003/9/28557/ - "Phong cách nông dân" và "con trâu 10 tỷ" http://vietnamnet.vn/psks/2007/07/723732/ - Ông nông dân "đổi" trâu lấy 10 tỷ đồng http://vietnamnet.vn/psks/2007/07/722592/

Cơ nghiệp lớn nhất của người nông dân là con trâu. Thế mà ông đem bán cả "cơ nghiệp" ngày ngày lầm lũi đi trước mình trên những thửa ruộng cộc cằn, chỉ để mua một cây cảnh. Nhưng, niềm đam mê và khát khao thoát nghèo lại mang đến cho ông một cơ nghiệp khác, trị giá 10 tỷ đồng.

- Những con trâu anh hùng http://luna4ever.wordpress.com/2007/09/12/nh%E1%BB%AFng-con-trau-anh-hung/ - Thăng trầm đời con trâu :frown: http://www.baobinhdinh.com.vn/562/2004/1/8033/ - Lĩnh Nam chích quái/Truyện Con Trâu vàng ở huyện Tiên du :D http://vi.wikisource.org/wiki/L%C4%A9nh_Nam_ch%C3%ADch_qu%C3%A1i/Truy%E1%BB%87n_Con_Tr%C3%A2u_v%C3%A0ng_%E1%BB%9F_huy%E1%BB%87n_Ti%C3%AAn_du - Con Trâu ở làng quê Việt Nam http://vipdanang.com/forum/showthread.php?t=429 - Vào rừng “nâm” trâu http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.psks.phongsu.21680.qdnd

Từ thành phố Vinh, vượt hơn 100km chúng tôi về xã Đức Sơn, huyện Anh Sơn, nơi có một cái nghề rất lạ - “nâm” trâu trong rùng sâu. Quanh năm, suốt tháng những người đàn ông khỏe mạnh thay nhau vào rừng “nâm” trâu. Từ những đàn trâu là nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình và cũng từ đàn trâu mà nhiều con em trong xã đã trở thành những cử nhân, bác sĩ…

“Nâm” trâu theo bà con nơi đây giải thích là đưa trâu vào trong rừng sâu để chăn thả nhưng không phải là thả rông mà có người quản lý.

- TRANH CHĂN TRÂU http://zencomp.com/greatwisdom/uni/u-tranh-chantrau/ix.htm - Thả trâu cho… trời (Website Viện chăn nuôi) http://www.vcn.vnn.vn/PrintPreview.aspx?ID=6497 - Phương pháp thu lợi cao từ con trâu già bị loại thải http://www.skhcn.vinhlong.gov.vn/ThongTin/tabid/59/categoryId/55/itemId/72/Default.aspx

Con trâu luôn gắn liền với hoạt động sản xuất của người nông dân, tuy nhiên khi bị khai thác quá sức mà không được chăm sóc tốt nó sẽ bị gầy gò ốm yếu, kiệt quệ không thể phục vụ sản xuất. Làm thế nào để có thể mang lại lợi kích kinh tế cao từ những con trâu già, trâu tơ không đủ sức sản xuất. Phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng sau đây sẽ giúp bà con "giải đáp" bài toán kinh tế này.

Bài này rất giá trị cho nông dân - SỐP CỘP HƯỚNG ĐI MỚI http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT3180728107

con trâu chính là đầu cơ nghiệp của Sốp Cộp và nó sẽ là “lá bùa thiêng” để huyện đuổi đi “con ma” tăm tối đói nghèo. Hiện tại, toàn huyện đã có khoảng 15.000 con trâu và con số này sẽ được nhân lên rất nhanh trong vài năm tới.

- Con nghé nhân bản đầu tiên ra đời http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2005/03/3B9DC7F8/ - Làng quê vắng bóng ...trâu http://www.baobacninh.com.vn/module/news/ViewContent.asp?langid=2&ID=246

Từ xưa trâu được xem là con vật quý trong mỗi gia đình nông dân. Ông cha ta vẫn có câu "Con trâu là đầu cơ nghiệp". Bà con nuôi trâu để phục vụ nông nghiệp như cày, kéo, chuyên chở... Còn bây giờ trâu đang lên giá. Nhưng cũng vì trâu lên giá mà làng quê... vắng dần bóng trâu.

- Chính phủ tặng 253 con trâu kéo cho đồng bào dân tộc huyện A Lưới http://www1.thanhnien.com.vn/Xahoi/2005/4/4/65558.tno - Dạy... Trâu http://www.cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=6057

Cả làng Ngọc, ai cũng biết đến ông Kuơ Muông, không phải ông nổi tiếng vì giầu có, hay vì tuổi cao nhất làng mà vì ông có biệt tài về nuôi, dạy trâu. Lúc đầu, nghe đến chuyện này, nhiều người phá lên cười.

- Thoát nghèo nhờ… trâu http://www.vnpost.dgpt.gov.vn/bao_2007/so05/vhxh/t12b1.htm - Nuôi trâu lấy thịt (Diễn đàn Nông nghiệp - Nông thôn) http://www.nghenong.com/showthread.php?t=188 - Một gia đình 9 mẹ con đều là tỷ phú http://www.thuonghieudatviet.com/new/modules.php?name=News&op=viewst&sid=110 - NGHĨ VỀ SỰ VẮNG BÓNG HÌNH ẢNH CON TRÂU TRÊN TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN http://www.vietnamfineart.com.vn/Story/Tapchimythuat/mythuattruyenthong/2007/2/921.html - Người anh hùng... chăn trâu http://www.suckhoedoisong.vn/details.asp?Object=61236805&News_ID=20434374 - Con trâu trên đồng ruộng miền Trung và chuyện hội nhập http://www.saigontimes.com.vn/tbktsg/TS_BD.asp?sobao=842

Câu chuyện của tôi bắt đầu từ câu hỏi của một chuyên gia kinh tế nước ngoài khi đi thăm các tỉnh miền Trung gần đây: “Tại sao ở miền Trung Việt Nam nông dân vẫn dùng trâu để cày ruộng?”. Khi nhận được câu hỏi như thế, tôi nói ngay: “Ông thấy đấy, chân ruộng ở miền Trung nhỏ và hẹp, dùng trâu để canh tác rất thích hợp”.

- Trâu Vàng Hồ Tây http://www.vn.net/article.php/20051221201856760 - Về Bát tràng đi xe trâu http://www.mangdulich.com/home/modules.php?name=News&file=article&sid=3751

Ba khách du lịch người vùng Kô Bê (Nhật Bản) hết giơ hai tay lên trời rồi lại ấp vào ngực để diễn tả cảm xúc khó nói được thành lời sau một tour thăm thú làng gốm cổ Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) bằng xe trâu của Công ty TNHH gốm sứ Minh Hải. Bà Mi Chi Ko thốt lên: “Tôi đã được xem múa rối nước và bây giờ là đi xe do trâu kéo, rất đặc biệt, rất Việt Nam, chỉ ở Việt Nam mới có”. Còn cô May U Mi thì vừa cười, vừa đưa tay xoa nhẹ đầy âu yếm vào lưng con trâu như để tạm biệt nó trước lúc rời khỏi làng gốm.

- Tục Lễ đầu Xuân http://www.ninhthuanpt.com.vn/chuc_xuan/Tucledauxuan.htm Giải trí chút :D - Cổ tích về con trâu http://www.nld.com.vn/tintuc/loi-song/159650.asp - Con trâu xóm Bưng http://www.maiyeuem.net/vtopic71410.html - Con trâu đen lông mượt (Nhà thơ: Trần Đăng Khoa) Con trâu đen lông mượt
Cái sừng nó vênh vênh
Nó cao lớn lênh khênh
Chân đi như đập đất
Trâu ơi ăn cỏ mật
Hay là ăn cỏ gà
Đừng ăn lúa đồng ta
(Lúa của mẹ của cha
Phải cấy cày vất vả)
Trâu ơi, uống nước nhà
Đây rồi nước mương trong
Có ánh mặt trời hồng
Có ánh mặt trăng tỏ
Bờ mương xanh mướt cỏ
Của trâu đấy, tha hồ
Trâu cứ chén cho no
Ngày mai cày thật khoẻ
Đừng lo đồng nứt nẻ
Ta có máy bơm rồi
Khó nhọc mấy mùa thôi
Sau thì trâu được nghỉ
Máy cày rồi có nhé
Trâu chỉ còn vui chơi
Hiểu ý ta, trâu cười
Nhe cả hàm răng sún...
- Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU (Trang này khá hay và vui) :D http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=180717 1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu
Tham vì ông lão tốt râu mà hiền
2. Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi
Mua trâu xem vó, mua chó xem chân
3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm
4. Đường về đêm tối canh thâu
Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười
5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa
hôm qua tui thấy con gà đá trâu.....
6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng
trâu đá gà què cẳng con trâu
7. Ai bảo chăn trâu là khổ??
Tôi đây chăn nàng còn khổ hơn trâu.
:D
8. Dù ai buôn đâu bán đâu,
Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về.
Dù ai buôn bán trăm nghề,
Mồng mười tháng tám trở về chọi trâu.
9. Đêm qua kẻ trộm vào nhà,
Làm thinh chợp mắt để mà mất trâu.
Nằm đây chớ chẳng ngủ đâu,
Thức mà giữ lấy con trâu con bò.
Nằm đây nào đã ngủ cho,
Thức mà giữ lấy con bò con trâu.
10. Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.
Ở đời khôn khéo chi đâu,
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần. ......
và: http://www.f3vn.eu/forum/archive/index.php/t-4524.html Kỳ sau: Việt Nam nên tận dụng lợi thế con trâu như thế nào.

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2008


Thương Hoài Câu Vọng Cổ

Thốt Nốt

“Từ là từ phu tuớng,
Bửu kiếm sắc phong lên đàng.
Vào ra luống trông tin chàng,
Ðêm năm canh mơ màng.
Em luống trông tin chàng,
Ôi, gan vàng quặn đau.
Ðuờng dầu xa ong buớm,
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
Còn đêm luống trông tin bạn,
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.
Vọng phu vọng, luống trông tin chàng,
Lòng xin chớ phụ phàng.
Chàng hỡi chàng có hay,
Ðêm thiếp nằm luống những sầu tây.
Biết bao thuở đó đây xum vầy,
Duyên sắt cầm đừng lạt phai.
Thiếp cung nguyện cho chàng,
Nguyện cho chàng hai chữ bình an.
Mau trở lại gia đàng,
Cho én nhạn hiệp đôi.”

Ðó là biên bản lời nguyên thủy cùa bài Dạ Cổ Hoài Lang (Ðêm nghe tiếng trống nhớ chồng) của ông Cao Văn Lầu (1892-1976) tức Sáu Lầu, bài hát tiền thân của bản Vọng Cổ ngày nay.

Tuy cải lương tuy đã có trước khi bài Vọng Cổ ra đời nhưng nhờ bài hát nầy mà nó đã

biến thể, thu hút giới thưởng ngoạn nhanh chóng và đông đảo hơn. Một tuồng cải lương, về kỷ thuật, là một tổng hợp của nhiều bài bản cổ nhạc dựa theo nội dung cốt truyện. Tuy nhiên, dù vở tuồng thuộc bất cứ thể loại nào: bi thảm, hài hước, xã hội, dã sử hay hương xa, nó đều phải có ít nhất một bài Vọng Cổ ở mỗi màn. Bắt buộc không thể thiếu. Nếu do đào kép nổi tiếng thủ diễn thì họ phải hát Vọng Cổ vài lần (thường là lúc chia tay và khi tái ngộ). Thật cũng không ngoa nếu nói cải lương nhờ Vọng Cổ mà đi sâu vào dân chúng, từ giai cấp trí thức đến tầng lớp bình dân, và Vọng Cổ cũng nhờ cải lương mà có một địa vị bất tử trong lòng người dân từ Bắc vô Nam.

Cổ nhạc Nam phần có rất nhiều bài bản: Xàng Xê, Nam Ai, Văn Thiên Tường, Nam Xuân, Sương Chiều, Tú Anh, v.v. nhưng nổi tiếng nhất vẫn là bài Vọng Cổ. Về sau chữ Vọng Cổ gần như đồng hóa và thay thế cho chữ Cổ nhạc Nam phần. “Nghe Vọng Cổ,” “ca Vọng Cổ,” “Làm vài câu Vọng Cổ nghe chơi!” trở thành ngôn ngữ thông dụng cho cách thưởng thức một bộ môn nghệ thuật đại chúng của dân miền Nam. Tuy nói là “nghe chơi” nhưng phải nhìn khán giả miền Nam khi họ nghe ca Vọng Cổ, dù ở các đám tiệc, buổi đờn tài tử hay trong rạp hát, mới thấy sự trân trọng của họ đối với bài hát và người trình diễn. Không ai bảo ai, tất cả đều im lặng khi câu rao bắt đầu. Họ chờ đợi nhưng cổ võ người nghệ sĩ trong im lặng, háo hức. Người hát cũng đáp lễ bằng để hết tâm hồn vào câu ca vì một câu ca vô hồn sẽ hiện rõ không thể dấu diếm, và đó là điều khinh thường người thưởng ngoạn. Câu xề vừa xuống là tiếng vỗ tay vang rền, từ em bé được cha mẹ dẫn đi xem hát lần đầu đến cụ bà hom hem ngồi bên đứa cháu, từ ông bà sang trọng ngồi ở hàng ghế thượng hạng gần sân khấu cho đến người đàn bà nhà quê ngồi cuối rạp ở hạng cá kèo. Tất cả đều vỗ tay. Tất cả đều bình đẳng. Không kẻ lớn người nhỏ, không kẻ giàu người nghèo. Chỉ có người thưởng thức một bài hát hay. Sau hơn 80 năm bài Vọng Cổ vẫn là vị hoàng đế không ngai của âm nhạc miền Nam. Trong một buổi trình diễn cổ nhạc Nam phần, dù là nguyên trọn hay trích đoạn vỡ hát cải lương hoặc đờn ca tài tử, bài Vọng Cổ luôn luôn có mặt và luôn luôn là bài hát chánh. Bài Vọng Cổ là một bài hát đặt biệt của miền Nam, không thể lầm lẫn. Nó là biểu tượng đặc biệt của dân miền Nam. Không to lớn dữ dội như sông Hồng, không thơ mộng, văn vẽ như sông Hương nhưng như giòng Cửu Long với nhánh sông Tiền, sông Hậu chảy thấm vào đất đai, bồi bổ đồng ruộng, chảy thấm vào lòng người lúc nào không biết. Bản Vọng Cổ thấm vào tâm hồn mộc mạc, chất phác của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và của cả miền Nam nói chung. Nhập vào từ lúc còn ngậm bầu vú mẹ, nhập vào từ lúc chập chửng bước đi cho mãi đến khi đặt chân vào cuộc đời đầy tranh đua, phiền toái.

Có phải ông Sáu Lầu là người đã đặt ra bài Dạ cổ hoài lang? Theo truyền thuyết, ông Sáu Lầu cưới vợ đã lâu, gia đình đầm ấm nhưng không có được một mụn con. Cha mẹ ông buộc ông phải cưới vợ khác để ông bà có cháu nối dõi tông đường. Ông Sáu buồn rầu, không biết xử sao cho vẹn cả đôi bên hiếu và tình. Sống xa người vợ thương yêu nhưng nào đâu quên bỏ được. Tuy xa mặt nhưng lòng không cách, tình yêu càng làm nỗi nhớ thương tăng thêm dào dạt. Lòng tâm sự của người chồng gởi cả vào bản nhạc mới được đặt ra, đó chính là bài Dạ cổ hoài lang bất hủ. Tuy bị cấm cản, ông vẫn lén lút lui tới với vợ. Sau đó bà có mang, vợ chồng lại xum họp.

Sở dĩ tôi chỉ gọi là bản nhạc mà không gọi là bài ca hay bài hát vì hiện nay có một số nghi vấn về lời của bài Dạ cổ hoài lang. Có những người cho rằng lời bài hát do ông Trần Xuân Thơ đặt ra, hay do một nhóm tài tử Sài Gòn đặt ra. Có người lại xác định là ông Sáu Lầu đã sáng tác cả nhạc lẫn lời. Dù sao đi nữa mọi người đều đồng ý là ông Sáu Lầu là cha đẻ của bài nhạc vô địch đó. Bài Dạ cổ hoài lang sau chuyển thành Vọng Cổ hoài lang (Trông tình xưa nhớ đến chồng) và cuối cùng là Vọng Cổ như ta biết ngày nay.

Theo cá nhân tôi, nếu truyền thuyết về hoàn cảnh sáng tác của ông Sáu Lầu là đúng thì có lẽ ông chỉ đặt ra bài nhạc, còn lời ca là của một nguồn gốc khác chưa được xác định chắc chắn. Tại sao? Đọc lời ca của bài Dạ cổ hoài lang ta thấy rõ ràng đó là lời than thở nhớ thương của một người vợ có chồng đi chinh chiến nơi phương xa. Nàng mong chồng bình an trong chiến trận, nhớ lời ước hẹn, tình nghĩa phu thê mà sớm quay về gia trung. Đây không phải là lời thương yêu ai oán của một người chồng, vì hoàn cảnh, đang phải sống xa lìa người vợ thủy chung. Dù có ngụy trang thế nào đi nữa, ông Sáu Lầu cũng không thể đặt ra lời cho một người đàn bà nhớ chồng để gởi gắm tâm sự nhớ vợ của ông. Rất phản tự nhiên. Văn chương của lời ca cũng tương hợp với các loại truyện thơ như Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Sanh Xuân Nương của đất Nam Bộ thời ấy hoặc các truyện Tàu như Tam quốc chí, Nhạc Phi, Thuyết Đường do ông Nguyễn Chánh Sắc và những nhà văn xưa của miền Nam dịch thuật. Ngoài ra, tất cả các bản nhạc xưa đều được sáng tác nguyên thủy cho nhạc khí, không lời hát và có lẽ nhờ đó mà chúng đuợc phổ biến rộng rải và lưu truyền cho đến ngày nay. Chúng không bị bó buộc tình cảm để chỉ được trình diễn hay thưởng thức trong một hoàn cảnh nhất định như các bài hát có lời.

Bài Vọng Cổ có một nét đặc biệt mà gần như không một bài hát nào khác được thừa hưởng. Đó là tính đa dạng, biến thái của bài hát theo lời ca . Cũng cùng điệu nhạc, điệu đàn nhưng bài Vọng Cổ thay đổi hẳn bản chất tùy theo lời đặt ra. Buồn thương sầu thảm như Lan và Điệp, Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài. Não nề ai oán như Sầu vương ý nhạc, Hạng Võ biệt Ngu Cơ. Khuyên dạy êm đềm như Tu là cội phúc, Nỗi mừng ngày cưới. Kể truyện tích xưa như Đội gạo đường xa, Lưu Bình Dương Lễ. Vui đùa, dí dỏm như Tư Ếch đi Sài Gòn, Tựa tuồng sân khấu. Không thể dùng Lý con sáo để nói những lời hý lộng mà chỉ có thể than thở như cô Lan trong Tình Lan và Điệp của soạn giả Viễn Châu (đừng lầm với bài Lan và Điệp cũng của ông Viễn Châu):

“Hoa bay theo gió cuốn rụng đầy sân rêu,
Nhìn hoa tàn rụng rơi, Lan bâng khuâng tê tái tâm hồn
Bởi bao cay đắng dập dồn,
Tình đầu vừa tan theo khói sương,
Lan khóc than trong tháng năm sầu thương.
Mùi thiền đành quen câu muối dưa,
Mong lãng quên khổ đau ngày xưa.”

Bản Vọng Cổ ca đủ 6 câu phải mất khoảng 6 phút, gần gấp đôi một bản tân nhạc, có thể kể đầy đủ một câu truyện, một sự tích. Vì vậy Vọng Cổ là một phương tiện rất tốt để truyền bá kiến thức văn hóa cho đại chúng nhất là với tầng lớp dân quê ít học. Đất rộng, người thưa. Vất vả, cô đơn là những nỗi khó khăn mà lớp người tiền phong xuôi Nam khai phá đất đai, mở mang xứ sở phải chịu đựng:

“Má ơi, đừng gả con xa
Chim kêu, vượn hú biết nhà má đâu”

Nhờ Vọng Cổ mà người bình dân miền Nam biết được các tích truyện đầy luân lý như Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Thạch Sanh Lý Thông, Tử Lộ v.v. hay những điển tích truyện Tàu như Triệu Tử Long triệt giang, Đơn Hùng Tín, Đắc Kỷ Trụ Vương, Lữ Bố hí Điêu Thuyền, Chung Vô Diệm. Không có lối giáo dục nào hay hơn. Trước là truyện thơ, sau là Vọng Cổ đã tạo cho người miền Nam một nếp sống và nhân sinh quan khác hơn dân các miền khác. Tinh thần phóng khoáng của những bậc tiền bối đi trước đã được các tích Cậu Hai Miêng, Đào Viên kết nghĩa, Đơn Hùng Tín, v.v. vung bồi, như phù sa làm phì nhiêu thêm đất vườn vùng đồng bằng sông Cửu, và truyền dạy đến lớp hậu sinh ngày nay. Nó tạo ra những phong cách “tứ hải giai huynh đệ”, “anh hùng tử, khí hùng bất tử” mà đến nay người miền Nam vẫn còn tự hào.

Rảo bước vào các làng quê miền Nam, người khách lạ luôn luôn nghe tiếng ca Vọng Cổ văng vẳng vọng ra từ một ngôi nhà nào đó trong xóm. Có thể là giọng ca của Minh Cảnh, Lệ Thủy, hay Hữu Phước, Ngọc Giàu. Có thể là bài Vọng Cổ xưa như Người mẹ mùa ly loạn, Gánh nước đêm trăng, có thể là một tân cổ giao duyên như Chàng là ai, có thể là giọng ca hài hước của Văn Hường trong Vợ tôi tôi sợ. Nhưng âm vang của bài Vọng Cổ luôn luôn ôm ấp, quấn quít tâm hồn người dân hiền lành, mộc mạc từ mấy mươi năm trước cho đến bây giờ. Và sẽ còn mãi về sau, thương hoài câu Vọng Cổ.

Thốt Nốt

Copy from : http://honque.net/

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2008


HÌNH ẢNH MẸ TRONG THI CA VIỆT NAM

Tuyết Mai

Mẹ là dòng suối tắm mát. Mẹ là dòng sông êm đềm. Mẹ là vòng tay ấm áp che chở cuộc đời con… Có không biết bao nhiêu thơ, nhạc, ca dao ca ngợi tình mẹ thương con bao la như trời cao biển rộng. Trên đời này có lắm kỳ quan, nhưng không có kỳ quan nào uy nghi và rực rỡ bằng “Trái Tim Của Mẹ”. Tình Mẹ thương con là một thứ Tình Thiên Thu Bất Diệt. Trong ngôn ngữ của loài người khắp thế giới, tiếng gọi “mẹ” là tiếng nói đầu tiên của trẻ thơ. Không phải có một sự ngẫu nhiên trùng hợp mà theo quy luật ngữ âm tiếng M là tiếng đầu đời của trẻ thơ, bật ra từ vành môi bập bẹ mới tập nói, để đáp trả lại tình mênh mông bao la như trời biển mẹ dành cho con. Người Việt Nam, ở miền Bắc gọi mẹ là “mẹ” , người Trung gọi là “mạ”, người Nam gọi là “má”. Người Pháp gọi là “Maman”, người Đức (Mutter), Người Bồ Đào Nha (Maê), Ba Lan (Matka) Tiệp Khắc (Mamicka), Người Nga gọi là (Mamb). Người anh là “mother” .. Trong ký ức của con, hình ảnh mẹ đơn sơ như hương lúa, mỏng mảnh như hoa cà, Nhà Thơ Lưu Trọng Lư đã để lại một bài thơ bất hủ về mẹ: “Mỗi lần nắng mới hắt bên song. Xao xác gà trưa gáy não nùng; Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng, Chập chờn sống lại những ngày không Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời Lúc người còn sống tôi lên mười Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội Áo đỏ Người đưa trước giậu phơi Hình dáng mẹ tôi chửa xóa nhòa Hãy còn mường tượng lúc vào ra Nét cười đen nhánh sau tay áo Trong ánh trưa Hè, trước giậu thưa” (Nắng Mới) Huy Cận thương mẹ một đời vất vả hy sinh cho chồng con, nhưng không một phút nào buồn lòng, chán nản cuộc đời nhiều cay đắng: “ Quanh năm có nghỉ ngày nào! Sớm khuya làm lụng người hao mặt gầy Rét Đông đi cấy đi cày Nóng Hè bãi cát, đường lầy đội khoai Bấu chân khỏi ngã dốc nhoài Những chiều gánh nước gặp trời đổ mưa”. (Mẹ ơi! Đời Mẹ) Nhà Thơ Hồ Dzếnh, Cha là người Trung hoa, Mẹ là người Việt, Ông đã viết lời thơ ca ngợi người phụ nữ Việt Nam! “Cô gái Việt Nam ơi! Từ thuở sơ sinh lận đận rồi Tôi biết tình cô u uất lắm Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi. Cô gái Việt Nam ơi! Nếu chữ Hy Sinh có ở đời Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực Cho lòng cô gái Việt Nam tươi” (Cảm Xúc). Trong những nhà thơ nổi tiếng thời tiền chiến không mầy người viết về tình mẹ, phần nhiều viết về tình yêu như Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử… Nhưng phần nhiều những tập thơ xuất bản ở hải ngoại sau năm 1975, thì đề tài quê hương và mẹ rất phổ thông. Có lẽ là vì những kẻ tha hương, ai ra đi cũng mang theo trong lòng một mảnh vườn hoài niệm. Trong mảnh vườn hoài niệm đó có dòng sông kỷ niệm, có những đêm trăng sáng, những con đường ngập nắng, đưa tuổi thơ ngọt ngào về mọi nẽo say mơ…lòng của ai mà chẳng có một quê hương với hình ảnh một bà mẹ già lưng còng tóc bạc? Nhà thơ Nguyễn Vô Cùng đã nhớ về mẹ : ”Mênh mông biển lớn sóng dâng trào Lòng mẹ ngàn năm vẫn dạt dào Chua xót thân già đời lận đận Ngậm ngùi phận trẻ kiếp lao đao Non buồn chạnh nhớ dường tê tái Cửa vắng vời trông luống nghẹn ngào Nhớ mẹ tháng năm mòn mỏi đợi Nỗi lòng canh cánh núi ngàn cao” Quê hương Việt Nam với chiến tranh lâu dài, có những người chồng phải đi chinh chiến miền xa, có người hy sinh ngoài chiến trận, bà mẹ Việt Nam vừa làm cha, vừa làm mẹ dạy dỗ, tần tảo nuôi con. Rồi khi chiến tranh chấm dứt bà mẹ Việt Nam chưa hết nỗi mừng vui hòa bình thì chồng con chịu cảnh lao tù học tập . Người đàn bà Việt Nam lại phải lặn lội rừng sâu núi thẳm để thăm nuôi chồng, con. Có lẽ người đàn bà Việt Nam là người chịu nhiều khổ đau nhất thế giới. Viết về nổi khổ của bà mẹ Việt Nam trong chiến tranh , Nhà thơ Phan Khâm có mấy vần thơ: “Lặn lội thân cò khóc nỉ non Mùa Hè đỏ lửa tháng sinh con Mẹ ở đầu ghềnh cha cuối thác Chiều ơi, quê ngoại nắng chon von. Ai về ngoài ngoại con theo với Quê Mẹ Đông Hà thuở chiến chinh Mẹ lấy chồng gian nan chới với Giống như đời mẹ cũng đao binh”. (Chiều Ơi Quê Ngoại) Hình ảnh của Mẹ sau cuộc chiến: “Ngày Đông mưa nhỏ hàng hiên Mẹ mang thùng hứng cho quên nỗi sầu Mẹ làm mọi việc – Cha đâu? – Cha con tù ngục rừng sâu mịt mù!”. (Ngày Đông ) Hoàng Minh Hùng Những khổ cực nghiệt ngã đã làm oằn lưng mẹ, làm khô héo đôi tay gầy guộc, tô đậm trên trán, trên đôi gò má của mẹ nhiều vết nhăn nheo. Những tàn phai của thời gian được ghi dấu trên mái tóc bạc phơ. Nhà Thơ Vương Đức Lệ xót xa thương mẹ: “Thương cái cò lặn lội bờ sông Mẹ về chợ cái tôm, cái tép Ấm mái tranh xưa chiều hôm khói bếp Bữa cơm nào, cơm gạo mới đưa hương… Ánh lửa hồng reo vui nồi cám lợn Vười sau xanh, lấm tấm dấu chân gà Trên cành trĩu, trái na vừa mở mắt Lời ca dao mẹ hát buổi trưa xa… (Nhớ Mẹ Ta Xưa) Những ngày các con còn nhỏ dại, mẹ một đời tần tảo, chịu khổ nhọc, hy sinh nuôi con nên người . Đến khi các con khôn lớn thì mỗi đứa một nơi, như núm ruột của mẹ bị cắt ra, bỏ đi mỗi nơi một khúc, còn nỗi đau nào hơn. Mẹ già chiều chiều ngồi tựa cửa mong con ở phương trời: “Chắt chiu cùng năm tháng Mẹ tần tảo ngược xuôi Nuôi con ngày khôn lớn Mỗi đứa một phương trời Nay tuổi già vóc hạc Thui thủi bóng vào ra Muộn phiền vai mẹ gánh Liêu xiêu buổi chiều tà” (Thuơng mẹ khổ một đời) Vương Đức Lệ Dù bao nhiêu tuổi già đi nữa, mất mẹ con cũng bơ vơ như đứa trẻ mồ côi, cả đời mình không lớn khôn thêm. Nhà thơ Phan thị Ngôn Ngữ rất lo “Xa mẹ rồi con biết sẽ về đâu?” “Dáng mẹ gầy-thấp thoáng buổi hoàng hôn Tóc mẹ trắng-chia đường trăm lối rẽ Con đứng một mình-trước sau quạnh quẽ Một giòng sông mất hút cuối chân trời Con mất mẹ rồi con sẽ mồ côi Trong góc tối-con âm thầm khóc mẹ Trong góc tối-một mình con lặng lẽ Chỉ mình con-tiếng gỗ nẻ đêm sầu Xa mẹ rồi con biết sẽ về đâu!” Hình ảnh mẹ luôn đơn sơ thân thiết như vườn xanh bóng mát, như hoa cao rụng trắng thềm nhà, như sáo diều vương thanh trúc…Mẹ là dáng dấp quê hương, nghìn trùng yêu dấu, là tiếng võng lời ru..Nghiêu Minh làm thơ ca tụng Mẹ: “Mẹ là con đường đưa con đến Chân Trời Mẹ là chiếc cầu đưa con qua bờ sông rộng Ôi bờ sông rộng Nhân Gian”. Hình ảnh Mẹ luôn sống trong lòng những đứa con lưu vong, hy vọng một ngày được trở về với Mẹ: “Mùa Xuân nào con sẽ về thăm Má Không bằng chim sâu con vẽ trong mơ Mà bằng dạt dào gieo nhân gặt quả Má giữ gìn con trong suốt nguồn thơ” (Xuân Nào Con Sẽ Vế Thăm Má) Nghiêu Minh Chẳng có gì đổi được tình mẹ, đổi được nụ cười mộc mạc, đơn sơ trên môi Mẹ hiền, nhà thơ Trần Trung Đạo đã hoài niệm về nụ cười của mẹ: “ Nhắc chiến phone lên bỗng lặng người Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi Ví mà tôi đổi thời gian được Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười…” Ngày đi con hẹn sẽ trở về, nhưng con vẫn biền biệt phương trời cho mẹ mỏi mắt chờ mong. Hoàng Trùng Dương nhớ buổi chia tay: “ Thu sang lá vẫn cứ rơi Xuân về Mẹ vẫn cuối đời trông con Tháng năm mẹ vẫn mỏi mòn Hao gầy thân xác chon von đỉnh đầu Nhớ con lệ nhỏ canh thâu Ngày đêm Mẹ vẫn nguyện cầu bình an” Rồi ngày con về thì mẹ đã ra đi… “Con về trong nỗi cô liêu Nghĩa trang vắng lạnh một chiều cuối Đông Còn đâu ngày tháng đợi trông Đứa con viễn xứ phiêu bồng ngàn khơi” (Khóc Mẹ) Hoàng Trùng Dương. Nói sao cho hết tình mẹ thương con. Mẹ là bóng mát của lủy tre làng, là khói lam chiều hoàng hôn nơi thôn giả, là những kỷ niệm thật êm đềm thuở ấu thơ . Tất cả sẽ trở nên nghẹn ngào chua xót trong tâm tư của những người con đã mất mẹ. Vậy những ai may mắn còn mẹ hãy ý thức mình là người có phước, hãy hân hoan, trân quý niềm vui còn có mẹ, vì: “Con có mẹ con còn tất cả Mẹ đi rồi, tất cả cùng đi Trong huyệt lạnh mẹ có nghe con khóc Khóc bây giờ và mãi mãi ngàn sau”

Tuyết Mai

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2008

NSƯT Minh Phụng từ trần


Thứ Bảy, 29/11/2008, 16:53 (GMT+7)
NSƯT Minh Phụng từ trần
NSƯT Minh Phụng - Ảnh: Linh Đoan
TTO - Khoảng 7g sáng ngày 29-11, sau hai ngày hôn mê NSƯT Minh Phụng đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM, hưởng dương 65 tuổi.
Nhiều năm nay tình trạng sức khỏe của nghệ sĩ Minh Phụng ngày càng sa sút, ông từng phải mổ tim, bị suy thận và những ngày cuối đời căn bệnh tiểu đường có nhiều biến chứng khiến ngón chân của ông bị hoại tử.
NSƯT Minh Phụng tên thật là Nguyễn Văn Thiệu (sau đó đổi tên là Nguyễn Văn Hoài), là người con đất Châu Thành, Mỹ Tho. Ông vào nghề từ khoảng năm 1962 tại gánh hát Tân Đô. Trong thập niên 60, 70 ông nhanh chóng trở thành anh kép cải lương được yêu thích với chất giọng mượt mà, trữ tình rất đặc sắc.
Nhiều hãng dĩa thi nhau mời ông thâu băng cùng các cô đào nổi danh thời bấy giờ như: Út Bạch Lan, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Phượng Liên… Ông từng hoạt động ở nhiều gánh hát lớn như: Thủ Đô, Kim Chung, Hương mùa thu… và được khán thính giả ái mộ đặt cho biệt danh “Hoàng tử cải lương kiếm hiệp” với những tuồng tích ghi đậm dấu ấn: Áo vũ cơ hàn, Kiếp nào có yêu nhau, Xin một lần yêu nhau, Tâm sự loài chim biển, Sầu quan ải…
Lần biểu diễn cuối cùng của NSƯT Minh Phụng trên sân khấu trong đêm Ngọc Đáng - 40 năm son sắt với nghề tối 1-11 tại rạp Hưng Đạo. Ông biểu diễn cùng vợ mình - nghệ sĩ Kiều Tiên -Ảnh: Linh Đoan
Trong thời gian lâm bệnh, dù các bác sĩ yêu cầu ngưng biểu diễn nhưng vì yêu sân khấu nên lúc nào thấy hơi khỏe nghệ sĩ Minh Phụng lại đi hát để đỡ nhớ nghề. Nghệ sĩ Kiều Tiên - vợ ông cho biết suất diễn cuối cùng ông tham gia là trong chương trình của NSƯT Ngọc Đáng - 40 năm son sắt với nghề diễn ra vào tối 1-11. Cuối tiết mục vì ngón chân đau không thể đi được nên bộ phận hậu đài phải kéo màn sớm để mọi người dìu ông vào sân khấu.
Linh cữu nghệ sĩ Minh Phụng được quàng tại nhà riêng số 791/7, Trần Xuân Soạn, Q.7, sau đó được đưa đi an táng tại chùa Nghệ sĩ TP.HCM ngày 6-12.
LINH ĐOAN


Thứ Năm, 27 tháng 11, 2008

എ thổ mộ























Xe " thổ mộ " là xe gì?

HỎI: Hồi tôi còn nhỏ, ba mẹ hay dùng xe ngựa (Độc mã có kéo cái thùng) như phương tiện di chuyển công cộng (chở chừng 6 người là cùng) và cứ nói là đi xe Thổ Mộ rẻ tiền. Tới nay, tôi vẫn thắc mắc là tại sao lại gọi xe do một con ngựa kéo là xe Thổ Mộ?
(Bác Hoàng Nghĩa / Fullerton)
ĐÁP: Có ý kiến từ những người thông Tây học cho rằng, Thổ Mộ là do tiếng Pháp “Tombereau” mà ra. Ý kiến này không đúng vì người Pháp ở Sàigòn (Nam Kỳ) trước đây chỉ gọi xe thổ mộ là Boite d’allumettes (hộp quẹt) hoặc “tac- à – tac” (Có lẽ vì khi chạy, vó ngựa chạm mặt đường trải đá nghe “tách, tách”). Và như Vương Hồng Sển ghi trong tự vị tiếng Việt Miền Nam: “Họ không bao giờ gọi xe thổ mộ là tombereau cả”.
Lại có ý kiến cho rằng, do từ “Tháo Mã” mà ra, vì đây là xe chở cỏ cho ngựa ăn (ở đồn Tây thời trước). Ý kiến này cũng lạ, người ta khó mà biết được tại sao “Tháo Mã” lại có thể trở thành Thổ Mộ. Huống chi bản thân hai tiếng Tháo Mã đã là tiếng Việt, dù là đọc theo âm Hán Việt. Hay là người đề xướng cách giải thích này muốn liên tưởng đến âm Quảng Đông của hai tiếng tháo mã là “ishôù mạ” chăng? Thổ mộ quả có na ná với “ishôù mạ” trong tiếng Quảng Đông, nhưng dân Quảng Đông có liên quan gì đến sự hoạt động ở các đồn Tây thời trước. Huống chi “ishôù mạ” (Tháo mã) chỉ có nghĩa là con ngựa bằng cỏ hoặc con ngựa cỏ tức ngựa hoang! Chứ đâu phải là xe chở cỏ cho ngựa ăn.
Cuối cùng, chỉ có cách hiểu “Thổ Mộ” là “ngôi mộ bằng đất” mới thật sự phù hợp để giải thích nguồn gốc của hai tiếng “Thổ Mộ” trong đoạn văn tả “xe Thổ Mộ” mà thôi: “Cái thùng xe thổ mộ với cái mui khum khum của nó rất giống cái hình một nấm mộ bằng đất”.

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2008

Lấy chồng xứ lạ - Vọng cổ







Lấy chồng xứ lạ - Vọng cổ

Lấy chồng xứ lạ .
Tác giả : Thanh Tòng
Cellphone : +84974442847
Home : 0650562874 - Fax : 0650552702
( Hò miền Nam )
Hò ơ … Rau răm cọng cứng dể bứng khó trồng …
Có thương nhau cho lắm ơ hò …
Có thương nhau cho lắm nàng cũng lấy chồng bỏ …..
Ca Vọng kim lang
Tôi … quên mối duyên quê nghèo ,
Bao tháng năm ân tình ,
Mà giờ nàng đành nở quên sao ?
Mai đây tiễn em theo chồng ,
Tình sầu nào tái tê lòng tôi
( + + + )
An là trai làng quê nghèo chung thủy ,
Đã yêu em rồi ,
Anh nguyền trọn kiếp sắt son ,
Sao em nở quên câu thề
Để dòng đời rẻ chia tình ta ?
( + + + )
Trời đêm lác đác ánh sao sa ,
Cỏ cây im lìm tương tư ,
Em theo chồng về nơi xứ xa
Nơi quê nghèo anh nhớ khôn nguôi
(Gác vọng cổ )
Em ơi trong bóng đêm nhìn sang nhà em đang treo đèn kết hoa rộn ràng đám cưới , tim anh chợt nhói từng cơn bàng hoàng ngơ ngẫn quay quắt nhớ em , nhớ những đêm hò hẹn , hai ta tựa má kề vai tâm tình thủ thỉ xây mộng tương lai mơ ước chuyện tương …
Ca vọng cổ ( câu 1 – 2 )
Câu 1/
Phùng …… Nép vào ngực anh , em e thẹn ngượng ngùng ….
Anh trai quê hiền hòa chất phác , em nền nã áo quê nghèo duyên dáng hồn nhiên (-)
Mối tình nghèo theo ngày tháng đong đưa , ai cũng mong hai ta sớm nên nghĩa vợ chồng , nhung duyên thắm tình nồng giờ phải ly tan , bởi một chuyến lên thành em bị phù hoa cám dỗ ….
Câu 2/
Em chán cảnh đời long đong tần tão , bỏ chiếc áo quê lên phố thị đổi đời ……
Mong trả hiếu cho Mẹ Cha và thoát cảnh nhà nghèo ….
Rồi dòng đời trôi lăn đưa đẩy , cạm bẩy đô thành trói chặt lấy chân em .
Em về quê mấy lần diêm dúa y trang , son phấn làm át cả hương cau đồng nội ,
Lần nầy em đưa về quê chàng trai xứ lạ , làm đám cưới xong là em bỏ xứ ly hương ….
Nói lối :
Ôi gió thổi vi vu …. Tiếng côn trùng tỉ tê nghe áo não .
Anh tìm đến nơi hẹn hò hoài niệm chuyện yêu đương .
Sương khuya rơi thắm lạnh áo mong manh .
Thôn trang cô tịch , hồn đơn côi tê tái ….
Chợt nhà ai vẵng lên khúc nguyệt …..
Ca Chiêu quân
Cầm ….. Sao uất nghẹn …
Cung oán sầu như xé ruột ,
Khúc chiêu quân ly biệt …
Ơi hởi cao xanh sao trớ triêu phũ phàng …
Đêm tàn … sương xuống mau .
Có con chim lẽ bạn …
Kêu sương thiết tha u buồn
( Gác vọng cổ )
Em ơi anh đã dành dụm chắt chiu qua mấy mùa nắng mưa trên đồng ruộng cạn , để sắm lễ vật tư trang cho cô dâu trong ngày vui đám cưới . Giờ đây mớ tư trang buồn như chú Rể bởi cô dâu đã tách bến sang …..
Ca vọng cổ ( 5 – 6 )
Câu 5/
Đò …..
Bỏ lại bến song xưa bao mơ ước hẹn hò …..
Lần cuối gặp nhau em nói lời tạ tội, vì chữ hiếu phải đành phụ bạc người yêu (-)
Phải nhắm mắt đưa chân bỏ xứ ly gia , nơi đất khách em biết sẽ thân tàn ma dại . Nhưng em gái bỏ học , anh trai bị từ hôn , Mẹ không thuốc men , cha thở dài chép miệng , em phải hy sinh một kiếp má hồng …..
Câu 6/
Em ơi thà rằng em ngoảnh mặt làm ngơ hay kiêu căng cậy phấn son vàng bạc mà khinh chê anh vô tài bất tướng . An sẽ tự nhũ mình yêu lầm người tham mê vật chất , anh dể quên mối tình đầu yêu người khác cao quý hơn em . Nhưng lời tạ tội chân thành và nước mắt em đẫm ướt áo anh , khiến tim anh đau nhói và yêu em hơn ngày tháng củ , Anh không trách em làm người vong phụ , chỉ trách tờ giấy bạc vô tri có sức mạnh hơn tình ….
Thôi em hãy an lòng cất bước vu quy , nơi đất khách mong em không gặp cảnh bẽ bang tủi nhục , như bao cô gái quê ta lấy chồng xứ lạ rồi trở lại quê nhà tàn tạ xác thân.
( 2004 )

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2008

Mẹ


Ngàn thu vỉnh biệt
Nói Lối
Trời ơi Mẹ tôi đã mất !
Đến giây phút nầy tôi mới thấm thía thế nào là hai chữ mồ côi
TuổI tác nào mà mất Mẹ cũng thấy mình bất hạnh bơ vơ
Mẹ ơi ! bao nở bỏ chúng con trên cỏi trần làm ngườI không Mẹ
Mấy hôm trước đây nghe Mẹ dặn dò trối trăn mà lòng con đau như xé
Dù biết một ngày nào rồi Mẹ sẽ ra đi
Nhưng như thế mà còn được nhìn Mẹ nói cười - ấm lạnh với chúng con
Được chăm sóc Mẹ vài muổng cháo , thuốc thang và đùa vui với Mẹ
Nay Âm cảnh Dương gian ngàn trùng hai lối rẻ
Phận làm con phải con xin vẹn bề Thần tỉnh mộ khang
Trước Linh sàng con thắp mấy nén Nhang
Cầu xin Mẹ hiển linh về đây chứng giám
Ôi ! dương gian giờ đây như mưa sầu gió thảm
Nhạc trổi cung oán sầu mà nghe đau nhói cả tâm can
Cao xanh ơi ông bày chi cuộc tử sinh âm cảnh dương gian
Cho Nhân thế khóc mãi sầu vạn cổ
Nuốt ngược nước mắt vào lòng nén cơn thổn thức
Con gọi thầm Ơi Mẹ hởഐ Mẹ ơi
(Gác vọng cổ ) :
Mẹ ơi có công ơn nào sâu hơn công ơn sinh thành dưởng dục . Có chữ nào nặng hơn là Mẫu tử thâm ….
Ca Vọng cổ
Câu 1 / Tình …….
Nay Mẹ ra đi trơ trọi một mình ….Thế là đây Thiên thu vĩnh biệt , con ngậm ngùi câu cốt nhục tình thâm (-) Dẫu biết kiếp ngườI sinh tử loanh quanh có ai tránh được đâu hai chữ vô thường . Nhưng trước linh sang nghe nhạc trổi bi thương , con khó ngăn đôi dòng lệ thảm …..
Câu 2 / :
Nhớ năm xưa thời chiến tranh khói lửa , Mẹ bảo vệ chúng con khỏi làn tên mủi đạn vô tình ….. Bỏ xứ sở quê hương Mẹ dắt díu chúng con lánh nạn chốn đô thành ….Mẹ phải tần tảo nuôi chúng con ăn học – bao trách nhiệm chất chồng Mẹ gánh nặng oằn vai.(-). Rồi Mẹ lo dựng vợ gã chồng lo sự nghiệp chúng con , Mẹ cườI hỉ hạ thấy con cháu xum vầy đoàn tụ. Mẹ chở che con đàn cháu lủ , không quản thân Mẹ hao gầy lặn lộI gian nan ….
Câu 3/:
Chúng con lớn khôn toả đi khắp nẻo đời tìm sinh lộ . Mẹ về lại quê nhà trên nền củ quê xưa .* Mẹ thui thủi một mình ấm lạnh gió mưa – lo khói hương khói mã mồ cho Tổ Tiên dòng họ *. Đời khốn khó cháu con ít về thăm Mẹ , không trọn bề hiếu thảo với từ thân.*(-) Ai cũng tất bật bộn bề công việc làm ăn . không chăm sóc Mẹ tuổi già sức yếu * Nóng lạnh bất kỳ Mẹ một mình cam chịu , không một tiếng thở than con bất hiếu vô tình
Nói lốI :
Gió lùa khung cửa vắng
Trăng lạnh mái hiên ngoài
Đêm nghe trờI đất chuyển
Trăm năm cũng một ngày
( Gác Vọng cổ )
Bấm đốt ngón tay một đờI ngườI được mấy lần Hạnh phúc , Mấy lượt tiễn đưa ngườI thân ra huyệt mộ , ném nắm đất bụi phù du chôn lấp thi …..
Ca Vọng cổ
Câu 4 /
Hài …….Nghĩa địa âm u , còn tiếng khóc gọi kêu hoà lẫn tiếng kinh đời ….. Ôi thân tứ đạI bao lần giả hợp , cỏi vô thường được mất có không . Mấy hôm trước đây Mẹ còn gọi cháu thương con , mong đứa đi xa trở về cho Mẹ nhìn tận mặt . Mà nay Mẹ đã xuôi tay nhắm mắt nằm trong cổ áo quan giá lạnh im lìm …
Câu 5 /
Mẹ có linh thiêng xin về chứng giám lòng ăn năn không phụng dưởng lúc sinh tiền…..Chúng con biết Mẹ bao dung không hờn trách buồn phiền ….. Nhưng nổi ân hận day vò tâm nảo , thương Mẹ không một ngày sung sướng nhàn thân (-) TuổI trẻ ở thị thành Mẹ nuôi lớn đàn con . Con khôn lớn Mẹ tìm về quê ẩn dật . Mẹ cam chịu nổi yếu đau bệnh tật Chúng con biết ra thì đã muộn màng…
Câu 6/:
Nợ trần trả xong . nghĩa ân đã vẹn , Mẹ thanh thản nhẹ nhàng nhắm mắt xuôi tay . Nhưng Mẹ có hay nổi hốI hận ăn năn của đàn con ở lạI cỏi dương trần gió bụi . Mẹ đến thế gian một mình rồi ra đi trơ trọi , trả xác thân nầy cho cát bụi phù du , Đưa tiển Mẹ đi là vỉnh biệt Thiên Thu , có gặp Mẹ chăng trong giấc mộng canh chầy ……
Từ đây hết đợI hết mong
Thi hài Mẹ gởI ra đồng cô liêu
Phương Tây mấy cụm mây chiều
Mẹ về đâu tá bỏ cửa nìa quạnh hiu
Thanh Tòng
Viết ngày Mẹ ra đi
( 30/01/2007

















Thuỷ thủ
Hoang mang toạ độ luân hồi
Lênh đênh biển khổ con tàu tái sinh
Tay cầm bánh lái vô minh
Rời tàu bến trước vô tình đến đây
Tàu ma đảo quỷ bủa vây
Sau lưng trước mặt Đông Tây vô thường
Mệt nhoài : vị -xúc -thanh -hương
Luân phiên thay đổi sáu đường xuống lên
Thôi từ giả kiếp lênh đênh
Bỏ tàu , bỏ lái ta lên vào bờ
Vở bừng thức tỉnh cơn mơ
Bật cười sang sảng bây giờ hồn nhiên
Biển đời sóng loạn gió điên
Giữa con mắt bảo tịch nhiên Niết Bàn
Phúc Long Phạm Thanh Tòng
( July .1st .2001 )